Lặng nhìn cuộc sống ngư phủ cất vó ở thượng nguồn sông Sài Gòn

Giữa đôi bờ thượng nguồn sông Sài Gòn phì nhiêu, nhiều gia đình lặng lẽ sống trên những căn chòi gác giữa lòng sông, mưu sinh bằng nghề cất vó.
 

Nghề quay vó xuất hiện trên khúc sông thuộc lòng hồ Dầu Tiếng (giữa địa phận xã Tân Hiệp, Hớn Quản, Bình Phước và huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh) từ khi công trình thủy lợi nhân tạo lớn vào loại bậc nhất Đông Nam Á này được xây dựng. Người mưu sinh là dân tứ xứ, hầu hết là cư dân nghèo các tỉnh miền Tây.  Công việc hàng ngày của những ngư dân nơi đây là quay vó, bơi xuồng đi đổ cá và qua khu vực biên giới bên kia sông thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh để bán cá vào mỗi sáng sớm hoặc xế chiều.

 

Tài sản của vợ chồng anh Nguyễn Thanh Triều (sinh năm 1973) và chị Võ Quỳnh Châu (sinh năm 1980) quê Kiên Giang là một căn chòi gác giữa lòng sông, ba trụ vó và một chiếc ghe máy. Ngoài chi phí 80 triệu đồng vay mượn mua sắm ngư cụ, họ phải nhờ 4 người anh em giúp chặt cây, dựng chòi ở, cắm trụ vó mất gần một tháng. Anh Triều cho biết, ở quê không có đất sản xuất và sống bằng nghề làm mướn vất vả nên nhiều người ở các tỉnh miền Tây lên sông Sài Gòn làm nghề vó, hy vọng kiếm được nhiều tiền để về quê mua đất ổn định cuộc sống.

 

Cá ở đây chủ yếu là cá trắng, cá mè, cá cơm. Từ cuối tháng 4 đến hết tháng 7 hàng năm là thời điểm rộ cá, ngư dân phải thức 24/24h để quay vó. Trừ chi phí tiền dầu, tiền thuế đánh bắt cá, mỗi tháng vợ chồng anh Triều kiếm được khoảng chục triệu. Thời gian còn lại, nhất là mùa khô nguồn cá khan hiếm, công việc kéo vó diễn ra từ 3h sáng đến 20h đêm, thu nhập có ngày chỉ được khoảng 100.000 đồng. “Mấy năm nay lượng người khai thác cá ngày càng tăng và đánh bắt với nhiều loại hình khác nhau, trong đó có cả những loại hình bị cấm, nguồn nước sông lại bị ô nhiễm do nhà máy chế biến mủ cao su xả thải nên nguồn cá đang dần khan hiếm”, anh Triều chia sẻ.

 

Trước đây, quay vó được thực hiện bằng sức người, mất nhiều thời gian và vất vả. Nay có máy thay thế nhưng không có điện chạy mô tơ nên phải dùng máy nổ dầu, rất tốn kém.

 

Nghề vó đối diện với rủi ro và nguy hiểm bởi ngư dân ít được ngủ, lại làm việc với máy móc trên chòi gác giữa lòng sông sâu. Mùa khô nước rút cách mặt sàn 7-8 m, trong khi mùa mưa nước dâng ngập mặt sàn, chảy xiết.

 

Anh Trần Văn Kha (sinh năm 1982) quê Kiên Giang, cho biết năm 2012, vợ anh là chị Võ Quỳnh Như bị ròng rọc cuốn gãy nát xương tay khi quay vó. Chi phí mổ ghép hết hơn 20 triệu đồng, đến nay chị vẫn chưa có tiền đi mổ để tháo đinh và miếng ghép. Có những ngư dân đã bỏ nghề vó dù đã bám sông hơn chục năm như ông Võ Văn Diệu (cậu vợ anh Triều). Cũng có người do nước ngập sàn chòi không ở được, phải bỏ vó lên bờ.

 

Các gia đình ngư phủ trồng rau trong thùng xốp để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Điều kiện đi lại khó khăn nên thường 4-5 ngày họ mới lên bờ một lần để mua thức ăn chủ yếu là rau xanh và xin nước sạch ăn uống. Mọi sinh hoạt khác như tắm giặt phải dùng nước sông vẩn đục và ô nhiễm.

 

Sống tách biệt với thế giới bên ngoài, những đứa trẻ nơi đây thiếu thốn điều kiện được vui chơi, nhút nhát với người lạ.

 

Trẻ đối diện với nhiều hiểm nguy khi người lớn mải mê làm việc. Điểm trường cách xa 7-8 km nên đến tuổi vào lớp 1, những đứa trẻ này được gửi về quê ở với ông bà để đi học.

Lê Trực

Cùng Danh Mục :

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>